Thursday, February 28, 2013

'Đi tắt đón đầu làm hại khoa học'

dạy kế toán trực tuyến,ten mien gia re

- Ông đánh giá thế nào về tầm quan yếu của việc có nghiên cứu đăng trên tập san nước ngoài?

- trước nhất, nhà khoa học được quốc gia tài trợ nghiên cứu (thực ra là người dân đóng thuế tài trợ), tài trợ bản tính là hình thức đầu tư. Do đó, nhà khoa học cần mỏng cho người đóng thuế biết họ đạt những thành quả nghiên cứu tương thích không.

tập san khoa học quốc tế có cơ chế bình duyệt nghiêm trang, những công trình ban bố trên tập san như thế là một cách bảo đảm chất lượng nghiên cứu. Nếu nghiên cứu sinh hay nhà khoa học không ban bố kết quả trên các tập san như vậy, công chúng và đồng nghiệp rất khó biết nghiên cứu của họ đáp ứng các tiêu chuẩn về phương pháp hay chất lượng. Một luận án tấn sĩ mà kết quả nghiên cứu chưa ban bố trên các tạp chí có bình duyệt thì rất khó đánh giá luận án đó có xứng đáng với cấp tấn sĩ hay không. Do đó, ban bố quốc tế có thể xem như một hình thức "thí điểm axít".

ban bố quốc tế có ý nghĩa quan yếu là cung cấp bằng cớ khoa học cho thực hiện và chính sách công. Trong y tế có phong trào "y khoa thực chứng", tức thực hiện lâm sàng dựa vào bằng cớ. Chính sách công, kể cả giáo dục, tầng lớp, y tế cần dựa vào bằng cớ. bằng cớ tốt nhất là những dữ liệu đúc kết từ nghiên cứu khoa học và nó phải qua bình duyệt trước khi áp dụng. ban bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí quốc tế đóng vai trò quan yếu trong một tầng lớp văn minh.

ban bố quốc tế còn là hình thức san sẻ tri thức với đồng nghiệp quốc tế, qua đó để lại một di sản cho đời kế tiếp. Không có ban bố khoa học thì có thể nói rằng khoa học không tồn tại.

- Cũng nhà khoa học đó khi nghiên cứu trong nước không có tập san ban bố, nhưng ở nước ngoài làm việc, họ lại có công trình đăng? tại sao vậy thưa ông?
Sự hiện diện của khoa họcViệt Nam trên trường quốc tế còn khiêm tốn.

- Trong số nhiều nguyên do, tôi nghĩ đến ba lý do can dự đến khoa học, con người và tiếng nói. Thứ nhất, khoa học trong nước có thể thiếu định hướng nghiên cứu tốt, nên họ phải loay hoay với đề tài cũ mà người khác đã làm (còn gọi "me too"), đề tài cũ như thế thì khả năng và cơ may ban bố rất thấp.

Thứ hai, nhà khoa học trong nước không có người chỉ dẫn kinh nghiệm cao. Bất cứ ngành nghề nào cũng cần người đi trước và đi sau. Trong khoa học, người đi trước có nhiệm vụ chỉ dẫn "đàn em", tạo điều kiện cho họ có thời cơ tiếp sự nghiệp. Việt Nam thiếu người chỉ dẫn có kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học. Điều này dẫn đến thực tại các nhà khoa học trẻ có máu nóng và nhân tài muốn làm nghiên cứu nhưng đành "khoanh tay". Thật đáng tiếc vì giới trẻ Việt chẳng kém ai trên thế giới.

Thứ ba là vấn đề tiếng nói. Trên 90% tạp chí khoa học quốc tế dùng tiếng Anh làm dụng cụ chuyển tải. Ngay cả những tạp chí từ Thuỵ Điển, Na Uy, Hà Lan, Phần Lan, Nhật, Hàn Quốc đều dùng tiếng Anh. Với Việt Nam, tiếng Anh là rào cản lớn. Nhiều nhà khoa học Việt biết tiếng Anh, họ có thể đọc, nghe và viết, nhưng phần đông họ chưa ở trình độ viết một bài báo khoa học hoàn chỉnh. Ngay cả nghiên cứu sinh vật học đại học nói tiếng Anh ở nước ngoài cũng chưa đủ khả năng soạn bài báo khoa học mà không cần đến sự tương trợ về tiếng nói.

Đó là những rào cản và lời giảng giải vì sao các nhà khoa học Việt Nam ít công trình ban bố trên tạp chí quốc tế.

- Làm thế nào cá nhân chủ nghĩa ông có những bài đăng trên tập san quốc tế?

- Tôi làm ở lĩnh vực y học, nên tôi sẽ san sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Một bài báo y khoa có cơ may ban bố phải hội đủ 5 nguyên tố: chọn đúng tạp chí, ý tưởng tốt, phương pháp hạp, cách diễn tả khúc chiết và diễn giải hạp với dữ liệu.

Mỗi công trình nghiên cứu hạp với một tạp chí chuyên ngành, nên việc chọn tạp chí hạp rất quan yếu. Nếu nghiên cứu mang tính lâm sàng thì không nên trình cho tạp chí nghiên cứu căn bản; trái lại, những nghiên cứu căn bản sẽ khó có cơ may ban bố trên các tạp chí nghiêng về nghiên cứu lâm sàng.

Nếu nghiên cứu có kết quả mang tính đột phá, tác giả nên nghĩ suy đến tạp chí số một thế giới như Science, Nature, Cell, PNAS... Còn nghiên cứu không có kết quả đáng kể thì nên nghĩ đến tạp chí chừng độ ảnh hưởng thấp hơn. Các tạp chí lớn từ khước khoảng 90-95% bài báo, tạp chí chuyên ngành từ khước khoảng 75% bài báo. tạp chí càng danh giá thì tỷ lệ từ khước càng cao. Do đó, "biết mình, biết ta" để chọn tạp chí không những tiện tặn ngày giờ, mà còn nâng cao xác suất ban bố.

Các tạp chí, dù hàng đầu hay chuyên ngành đều thích nghiên cứu có ý tưởng tốt. Nghiên cứu có ý tưởng tốt thường cho kết quả mới, cách tiếp cận mới hoặc cách diễn giải mới. Nghiên cứu mà kết quả có thể gây tác động đáng kể đến chuyên ngành hay dẫn đến một sự đổi thay thực hiện đều được đánh giá cao và có cơ may ban bố. Những nghiên cứu mà người đọc xong thở dài "không mợ thì chợ vẫn đông" tức chẳng có gì mới, chẳng có ảnh hưởng gì, nguy cơ bị từ khước rất cao.

Phương pháp rất quan yếu. Khoảng 70% những bài báo bị từ khước là do khuyết thiếu về phương pháp nghiên cứu. Do đó, tác giả phải bảo đảm phương pháp nghiên cứu thật tốt, kể cả cách thiết kế hạp, phương pháp đo lường đúng chuẩn, cách phân tách dữ liệu hạp, nâng cao xác suất được ưng.

Cách diễn tả, kể cả tiếng Anh là một trong những nguyên tố quan yếu cho bài báo khoa học. diễn tả dữ liệu và kết quả nghiên cứu logic, bám sát vào đích sẽ khiến các chuyên gia bình duyệt có ấn tượng tốt về tác giả. Một bài báo có thể có ý tưởng hay và làm đúng phương pháp, nhưng cách diễn tả kết quả "lôi thôi" làm cho người đọc thấy tác giả nghĩ suy lù mù, xác suất bị từ khước cao.

Diễn giải kết quả nghiên cứu trong bài báo khoa học là một đóng góp kiến thức của tác giả. Trong phần này, tác giả cần phải chỉ ra đóng góp mới của bản thân. Diễn giải quá nhiều có thể bị cho "nhiều chuyện"; diễn giải quá ít bị người đọc nghĩ là thiếu ý tưởng, bởi thế, cần phải diễn giải sao cho hạp với dữ liệu thực tại, chỉ ra nghiên cứu của tác giả là miêu tả đóng góp cho chuyên ngành.

- Ông thấy việc đăng bài trên tập san trong và ngoài nước khác nhau như thế nào?

- Sự dị biệt cơ bản là rất nhiều tạp chí trong nước không có hệ thống bình duyệt (peer-review), trong khi đó các tạp chí khoa học quốc tế (trong thư mục ISI) đều có hệ thống bình duyệt nghiêm trang. Đối với những tạp chí không có bình duyệt ở trong nước, bài báo gửi đến đều được đăng. Có tạp chí đăng cả 5 bài của một tác giả trong cùng một số! Ở nước ngoài, một khi tác giả trình bài báo cho một tạp chí, ban biên tập sẽ coi xét và nếu thấy hạp, sẽ gửi cho một số chuyên gia trong ngành bình duyệt bài báo. Chỉ khi nào bài báo được các chuyên gia bình duyệt và ban biên tập ưng thì mới được ban bố. Một khi được ban bố, bài báo sẽ được lưu trữ trong một hệ thống thư viện toàn cầu.

dị biệt thứ hai là thành phần ban biên tập. Các tạp chí khoa học nghiêm trang đều có ban biên tập mà thành viên đến từ nhiều trọng điểm khoa học và đại học trên thế giới. Rất nhiều tạp chí khoa học trong nước chỉ có ban biên tập địa phương, không có sự hiện diện của các nhà khoa học quốc tế. Một tạp chí không có ban biên tập quốc tế thì không bao giờ được ưng cho vào danh mục ISI.

dị biệt thứ ba là đạo đức khoa học. Trong khi các tạp chí ngoại quốc quan hoài đến đạo đức khoa học và y đức, thì các tạp chí y khoa trong nước không quan hoài đến y đức; họ ban bố bất cứ công trình nghiên cứu nào, dù nghiên cứu đó có thể không đáp ứng tiêu chuẩn về y đức.

Một dị biệt nhỏ nữa là diễn tả. Nhiều tạp chí khoa học trong nước có cách diễn tả chẳng giống ai, không theo một thông lệ khoa học nào cả. Tác giả có thể diễn tả theo ý mình, và do đó dẫn đến tình trạng "trăm hoa đua nở". Điều này làm cho người đọc cảm thấy những bài báo nghiên cứu trong nước rất nông cạn và thiếu tính khoa học. Còn các tạp chí khoa học trong ISI thì có qui định rất chém về cách diễn tả dữ liệu, cách viết, thậm chí cách diễn tả tài liệu tham khảo.

- Trong cuộc tranh cãi về những khó khăn khi ban bố khoa học quốc tế, có các quan điểm khác nhau, một bên cho rằng môi trường làm việc không tốt, một bên cho rằng chính các nhà khoa học chưa chịu tìm tòi nghiên cứu. quan điểm của ông là gì?

- Tôi nghĩ môi trường làm việc là một vấn đề, một rào cản cho khoa học ở nước ta. Môi trường “hành là chính” làm nhụt ý chí của sao nhà nghiên cứu trẻ. không những thế, ngay cả cách thức chọn đề tài nghiên cứu, cách duyệt đề tài, cách nghiệm thu, bị động trong xét duyệt đề tài, v.v. cũng làm cho nhà khoa học trẻ có tự tôn không dám dấn thân vào khoa học. Nhiều người trong thành viên trong các hội đồng “ngồi nhầm chỗ”, nhưng lại có ngôn ngữ quan yếu mang tính quyết định sự thành bại của một đề tài. Có nhiều đề tài nghiên cứu đáng được tài trợ nhưng không được tài trợ; trái lại, có những đề tài được tài trợ một số tiền rất lớn nhưng tính khả thi thì rất thấp. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học của Việt Nam tuy không cao, nhưng không phải là chưa đầy đủ; vấn đề là cách phân phối tài trợ sao cho công minh và đúng chuẩn khoa học.

Tôi còn thấy tồn tại một sự kỳ thị trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Rất nhiều thầy cô rất cổ hủ, không chịu học hỏi cái mới, nên lạc hậu. Nhưng khi nghiên cứu sinh vật học cái mới thì các thầy cô không ưng, thậm chí còn làm khó một cách rất thấp những nghiên cứu sinh nào dám phản biện quan điểm lạc hậu của họ. ngoại giả, có quĩ nghiên cứu có qui định chỉ tài trợ cho những người có bằng tấn sĩ, mà không quan hoài nâng đỡ những người có bằng cấp thấp hơn. Tôi xem đó là hình thức kì thị khó hiểu nhất và vô lý nhất. Tôi có những người thầy là thầy thuốc (chứ chưa bao giờ có bằng tấn sĩ) nhưng tôi xem họ là bậc thầy của bậc thầy. Kỳ thị trong khoa học là điều chẳng thể ưng được.

Ngoài vấn đề “cơ chế” trên, còn vấn đề cá nhân chủ nghĩa nhà khoa học. Phải hi vọng rằng chúng ta chưa có một “văn hoá khoa học” tốt. Ở đây, khi nói “văn hoá khoa học”, tôi muốn nói đến nếp tìm tòi, đặt vấn đề, nghĩ suy như nhà khoa học, nghĩ suy và hành động dựa vào bằng chứng, sự kế tục, v.v. Đó là những gì tôi thấy dường như vẫn còn thiếu trong giới sinh viên và nghiên cứu sinh. Thay vào đó là tư duy “đi tắt đón đầu”, nóng lòng làm cho có, làm những gì dễ, và không quan tâm đến chất lượng, nên khó có những nghiên cứu có giá trị cao. Nhiều người học tiến sĩ không phải vì khoa học mà vì muốn có một cái bằng để tiến thân, và mục tiêu này dẫn đến những ý tưởng và đề tài mang tính tủn mủn, chẳng có giá trị khoa học gì để có thể công bố trên các tạp chí quốc tế.

- Theo ông, làm thế nào khuyến khích nhà khoa học trong nước?

- Tôi nghĩ đến chính sách lâu dài hơn và có hệ thống hơn liên can đến con người. Chúng ta cần lập những quỹ dành cho các nhà khoa học trẻ (mới xong tiến sĩ), gửi họ ra nước ngoài nối nghiên cứu trong thời đoạn hậu tiến sĩ.

Với nhà khoa học có triển vọng cần có tài trợ đặc biệt cho họ. Tài trợ thế nào đảm bảo họ đủ lương lậu để không phải lo đến chuyện "cơm, áo, gạo, tiền" hay "chạy sô" để xoá đói giảm nghèo". Tóm lại, chúng ta phải lập ra quỹ dành cho nhà khoa học tinh hoa (elite), cho phép họ độc lập trong nghiên cứu và sử dụng ngân sách khoa học. Khoa học bắt đầu từ con người có tài và không lý do gì tầng lớp không nuôi dưỡng nhân kiệt.

Ngoài ra, Việt Nam nên học cách làm của Trung Quốc về cách khuyến khích nhà khoa học. Tôi từng đề nghị nên thưởng cho nhà khoa học có công trình công bố trên những tạp chí quốc tế có tác động cao. Một cách khuyến khích khác là đặc cách, đề bạt nhà khoa học khi có công trình công bố quốc tế chất lượng cao, hoặc đặt công bố quốc tế như một tiêu chuẩn chính cho đề bạt các chức danh khoa giáp.